Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
  • Thư viện điện tử và kho tin
  • Đề tài nghiên cứu cấp bộ
  • Đề tài nghiên cứu cấp nhà nước
  • Tham khảo tạp chí
  • Sách toàn văn
  • Thư điện tử
  • Chính phủ
  • left_banner_gioithieu (1)
  • 1.3 top logo - lich su phat trien


Lịch sử phát triển


II. Các thời kỳ phát triển


Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam kể từ cơ quan tiền thân được thành lập năm 1953 đến nay đã có lịch sử hình thành và phát triển liên tục trên 60 năm. Trong khoảng thời gian hơn nửa thế kỷ ấy, Viện đã có bước trưởng thành và phát triển về mọi mặt, có những đóng góp quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa cũng như sự nghiệp phát triển khoa học và công nghệ nước nhà nói chung, sự nghiệp phát triển khoa học xã hội và nhân văn nói riêng.Quá trình hình thành, phát triển của Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam có thể chia thành 4 thời kỳ, tương ứng với các giai đoạn phát triển của cách mạng Việt Nam.


1. Thời  kỳ hình thành, bước đầu xây dựng và phát triển (1953-1959)

Ngày 2/12/1953, Ban nghiên cứu Lịch sử - Địa lý – Văn học được thành lập theo Quyết định số 34/NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, từ giữa năm 1954 được đổi tên thành Ban nghiên cứu Văn học - Lịch sử - Địa lý, gọi tắt là Ban nghiên cứu Văn - Sử - Địa. 

Ban nghiên cứu Văn - Sử - Địa ra đời nhằm đáp ứng một số yêu cầu như sau:

- Góp phần vào việc bồi dưỡng lý luận về chủ nghĩa Mác – Lênin và đường lối cách mạng của Đảng.

- Góp phần nâng cao tinh thần yêu nước và tinh thần quốc tế vô sản của nhân dân ta.

- Phê phán những quan điểm, tư tưởng phản động sai lầm.

- Phát triển giao lưu văn hóa, khoa học với các nước. 

Nhiệm vụ của Ban nghiên cứu Văn - Sử - Địa được ghi rõ trong Quyết định thành lập do Ban Chấp hành Trung ương Đảng quy định như sau:

- Sưu tầm và nghiên cứu những tài liệu về lịch sử, địa lý và văn hóa Việt Nam và biên soạn những tài liệu về sử học, địa lý, văn học Việt Nam.

- Nghiên cứu và giới thiệu lịch sử, địa lý, văn học các nước bạn.


2. Thời kỳ trưởng thành, phục vụ 2 nhiệm vụ chiến lược: xây dựng miền Bắc, giải phóng miền Nam (1959-1975)

Sau ngày miền Bắc nước ta được giải phóng và chuyển sang nhiệm vụ khôi phục kinh tế sau chiến tranh, thực hiện công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội làm cho miền Bắc ngày càng vững mạnh, thống nhất nước nhà. Đây là thời kỳ đòi hỏi đất nước ta phải phát triển mạnh mẽ khoa học và công nghệ nói chung, khoa học xã hội và nhân văn nói riêng. 

Ngày 4 tháng 3 năm 1959, Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ký Sắc lệnh số 01/SL thành lập Ủy ban Khoa học Nhà nước trực thuộc Hội đồng Chính phủ. Ban Khoa học xã hội (KHXH) nằm trong cơ cấu tổ chức của Ủy ban khoa học Nhà nước. 

Nhiệm vụ chủ yếu của Ban KHXH lúc này là tập trung thực hiện các vấn đề sau đây:

 - Xây dựng tổ chức, đặt nền móng cho Viện khoa học xã hội Việt Nam sau này.

- Tích cực tham gia nghiên cứu một số vấn đề phục vụ nhiệm vụ chính trị của Đảng và Nhà nước.

- Gấp rút đào tạo cán bộ cho KHXH.

- Mở rộng quan hệ quốc tế về KHXH.

- Giúp Ủy ban Khoa học Nhà nước trong việc quản lý KHXH.

Ngày 11/10/1965, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã quyết định tách Ủy ban khoa học Nhà nước thành 2 cơ quan độc lập: Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước và Viện Khoa học xã hội (Quyết định số 165/TVQH ngày 11/10/1965 của Quốc hội ).

Ngày 19/6/1967, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã ra Quyết định số 47/TVQH về việc chuyển Viện Khoa học xã hội thành Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam (Ủy ban KHXH Việt Nam)

Chức năng, nhiệm vụ của Ủy ban KHXH Việt Nam "là Trung tâm nghiên cứu và quản lý việc nghiên cứu khoa học xã hội nước ta, nhiệm vụ chung của nó là, dưới sự lãnh đạo của Đảng, vận dụng chủ nghĩa Mác-Lênin, học thuyết duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để nghiên cứu những vấn đề khoa học xã hội nhằm góp phần vào sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta”, “là Trung tâm tập hợp cán bộ nghiên cứu khoa học xã hội của cả nước, là một chỗ dựa của Trung ương Đảng và Chính phủ về mặt nghiên cứu lý luận, là một chỗ dựa của các cơ quan giảng dạy và truyền bá khoa học xã hội ”. (Nghị quyết số 117/CP của Thủ tướng Chính phủ ngày 31/7/1967).    


3. Thời kỳ thống nhất nước nhà, cả nước tiến lên CNXH (1975-1985)

Cuộc tổng tiến công mùa xuân năm 1975 với đỉnh cao là Chiến dịch lịch sử Hồ Chí Minh đã kết thúc thắng lợi cuộc chiến tranh lâu dài gian khổ và anh dũng của nhân dân ta, hoàn thành nhiệm vụ cách mạng giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Rà soát lại các chức năng, nhiệm vụ được giao, Ủy ban KHXH Việt Nam đã cụ thể hóa thành 5 nhiệm vụ chủ yếu trong giai đoạn phát triển mới như sau:

- Nghiên cứu những vấn đề lý luận và phương pháp luận của ngành KHXH, giảng dạy, truyền bá, góp phần làm cho hệ tư tưởng Mác-Lênin chiếm vị trí chủ đạo trong đời sống xã hội nước ta.

- Phát huy những truyền thống và giá trị tinh thần tốt đẹp của dân tộc góp phần tổng kết kinh nghiệm đấu tranh cách mạng và xây dựng CNXH ở nước ta, làm phong phú thêm kho tàng lý luận Mác-Lênin.

- Góp phần giải quyết những vấn đề do thực tiễn cách mạng nước ta đặt ra.

- Đào tạo cán bộ, nhất là cán bộ trên đại học.

- Mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế, trước hết là với Liên Xô và các nước XHCN khác.


4. Thời kỳ đổi mới và phát triển (1986- 2013)

Thực hiện Nghị quyết Đại hội VI, Nghị quyết 26 của Bộ Chính trị về khoa học và công nghệ trong sự nghiệp đổi mới, Ủy ban KHXH Việt Nam (từ năm 1993 là Trung tâm Khoa học xã hội và  Nhân văn Quốc gia; từ năm 2004 là Viện Khoa học xã hội Việt Nam và từ tháng 12/2012 là Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) đã có một bước chuyển dịch quan trọng, đánh dấu việc đổi mới tư duy, khắc phục sự chậm trễ của khoa học xã hội do Đại hội VI đề ra.

Trên cơ sở chức năng nhiệm vụ được giao, Trung tâm Khoa học xã hội và  Nhân văn Quốc giaViện Hàn lâm KHXH Việt Nam đã tập trung lực lượng nghiên cứu những vấn đề vừa cơ bản vừa cấp bách về lý luận và thực tiễn trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; góp phần hình thành cơ sở lý luận về CNXH và con đường đi lên CNXH ở nước ta, cung cấp luận cứ khoa học cho việc soạn thảo Cương lĩnh, Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội, trong thời kỳ quá độ tiến lên CNXH, hoạch định các chủ trương đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước trong công cuộc đổi mới đất nước. Đẩy mạnh nghiên cứu, phát hiện, sưu tầm, khai thác và phát huy những giá trị lịch sử, văn hóa, văn minh Việt Nam, góp phần vào vào việc nâng cao dân trí, giáo dục lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc cho cán bộ và nhân dân. Tích cực điều tra cơ bản về kinh tế – xã hội – văn hóa nhằm tổng kết thực tiễn, góp phần cung cấp luận cứ khoa học cho việc xây dựng quy hoạch phát triển của từng vùng cũng như chung cho cả nước. Việc hợp tác nghiên cứu của Trung tâmViện Hàn lâm KHXH Việt Nam với các bộ, ngành, các tỉnh, thành phố trong cả nước không ngừng được mở rộng. Việc hợp tác nghiên cứu các vấn đề KHXH & NV của tThế giới và khu vực của Trung tâmViện Hàn lâm KHXH Việt Nam với các nước trên thế giới cũng ngày càng được tăng cường. Đến nay, Trung tâmViện Hàn lâm KHXH Việt Nam đã có quan hệ hợp tác nghiên cứu, đào tạo cán bộ, trao đổi thông tin khoa học với hơn 50 nước và tổ chức KHXH trên thế giới. Cùng với sự trưởng thành của Trung tâm Khoa học xã hội và  Nhân văn Quốc gia, xu thế này sẽ ngày càng phát triển trong những thập niên tới của thế kỷ XXI. Đặc biệt, trong hơn 10 năm trở lại đây, phát huy các thành tựu đã đạt được trong suốt chặng đường xây dựng và phát triển, Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam đã trưởng thành vượt bậc trên nhiều phương diện: xây dựng hệ thống các cơ quan và lĩnh vực nghiên cứu, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực KHXH&NV, triển khai các đề tài nghiên cứu cơ bản cũng như ứng dụng các kết quả nghiên cứu KHXH&NV vào đời sống thực tiễn. Đó chính là thành quả lao động của hàng ngàn cán bộ nghiên cứu, phục vụ nghiên cứu và công chức, viên chức của Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam qua các thời kỳ.

Trong hơn 560 năm xây dựng và phát triển, Trung tâm Khoa học xã hội và  Nhân văn Quốc gia nay là Viện Hàn lâm Khoa học xã hộiHXH Việt Nam đã có nhiều đóng góp về mặt khoa học, được Đảng và Chính phủ đánh giá cao, góp phần quan trọng vào việc hoạch định các chủ trương, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước trong từng thời kỳ và góp phần vào việc phát triển nền văn hoá, khoa học của Việt Nam. 


Nguồn: Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam 60 năm xây dựng và phát triển

.

Số lượt truy cập: